Người sống ở phường An Phú Đông hôm nay gồm nhiều lớp: những gia đình gốc đã làm vườn, làm ruộng ven sông Sài Gòn qua nhiều đời từ thời còn là các xã An Phú Đông, Thạnh Lộc của huyện Hóc Môn; những người từ các tỉnh về lập nghiệp theo từng đợt khi vùng này đô thị hoá; và rất đông gia đình trẻ mua nhà, thuê nhà trong các khu dân cư mới. Ba lớp người ấy sống đan xen trong cùng con hẻm, và nét riêng của An Phú Đông nằm chính ở sự đan xen đó.
Bài này phác chân dung con người trên địa bàn, theo cách người địa phương tự kể và theo những gì bất cứ ai sống ở đây vài năm cũng nhận ra. Phường An Phú Đông nói ở đây là phường mới từ ngày 1/7/2025, gồm chủ yếu An Phú Đông và Thạnh Lộc cũ của Quận 12. Bài không nêu số liệu dân số, vì các con số công bố khác nhau theo thời điểm và chưa thống nhất cho đơn vị mới.
Những gia đình gốc: người của vườn và con nước
Lớp cư dân lâu đời nhất là các gia đình đã sống trên đất này từ khi nó còn là làng vườn thuộc Hóc Môn. Họ làm vườn trên những liếp đất xen mương, trồng lúa trên ruộng trũng, bắt cá tôm dưới kênh rạch, đi ghe trên sông Sài Gòn, sông Vàm Thuật. Ký ức của họ gắn với con nước: mùa nào nước lớn, tháng nào nước mặn lên, chỗ nào ngày xưa có bến đò, có cây cầu khỉ.
Ở nhiều xóm, người ta vẫn nhận ra nhau theo dòng họ, theo "nhà ông Tư", "xóm bà Sáu" — cách gọi tên theo thứ bậc trong nhà của người Nam Bộ. Những gia đình gốc thường giữ nhà thờ họ hoặc bàn thờ ông bà lớn trong căn nhà chính, mộ phần trong vườn, và là những người đứng ra lo việc đình, việc xóm. Con cháu của họ nay phần lớn đi làm công ty, buôn bán, ít người còn sống bằng vườn.
Nhiều gia đình gốc cũng mang trong mình ký ức chiến tranh. Vùng ven sông phía bắc Sài Gòn từng là vùng tranh chấp, và chuyện người trong nhà đi kháng chiến, nhà bị đốt, phải tản cư là chuyện mà người lớn tuổi ở đây hay kể. Phần lịch sử ấy có chuyên mục riêng của trang; ở đây chỉ cần biết rằng nó vẫn hiện diện trong những bữa giỗ, những tấm bằng treo trên tường nhà các cụ.
Những đợt người mới về
Từ khi Quận 12 được lập năm 1997 và nhất là khi các khu dân cư mọc lên, An Phú Đông và Thạnh Lộc đón nhiều đợt người đến. Lớp đầu là người làm công nhân, buôn bán nhỏ, thuê trọ gần các cơ sở sản xuất, kho bãi ở phía Thạnh Lộc cũ. Nhiều người trong số đó ở lại, dành dụm mua đất vườn chia lô, dựng nhà.
Lớp tiếp theo là những gia đình từ nội thành dời ra vì nhà chật, đất đắt, muốn có căn nhà rộng hơn cho con. Rồi đến lớp gia đình trẻ: những người từ các tỉnh miền Trung, miền Tây, miền Bắc vào thành phố học, đi làm, lập gia đình và chọn vùng ven như An Phú Đông làm nơi an cư đầu tiên. Họ đi làm sớm, về muộn, con gửi trường mầm non gần nhà, cuối tuần chở con ra bờ sông chơi.
Mỗi lớp người mang theo giọng nói, món ăn, thói quen của quê mình. Trong một con hẻm có thể nghe giọng Quảng, giọng Nghệ, giọng miền Tây lẫn giọng Sài Gòn; quán đầu hẻm bán bún bò, quán cuối hẻm bán hủ tiếu, quán giữa bán bánh cuốn. Không ai coi đó là chuyện lạ — đó là bộ mặt bình thường của một vùng ven đô đang lớn.
Ba lớp cư dân, ba nhịp sống
Phân chia dưới đây chỉ để hình dung; trong thực tế ranh giới mờ dần qua thời gian, nhất là ở thế hệ con cái sinh ra và lớn lên tại đây.
| Lớp cư dân | Hay sống ở đâu | Nhịp sống thường thấy | Mối gắn kết với địa phương |
|---|---|---|---|
| Gia đình gốc | Nhà vườn, nhà cũ dọc các con đường cũ, gần sông, kênh | Gắn với giỗ chạp, việc đình, việc xóm; người già ở nhà, con cháu đi làm | Đất đai, mộ phần, đình làng, họ hàng quanh vùng |
| Người đến lập nghiệp từ trước | Nhà xây trên đất vườn chia lô, dãy nhà trọ, nhà gần chỗ làm | Làm công nhân, buôn bán, chạy xe, làm thợ; nhiều người đã có nhà riêng | Chỗ làm, hàng xóm cùng quê, con cái đi học ở đây |
| Gia đình trẻ mới về | Khu dân cư mới, nhà phố trong hẻm, nhà thuê | Đi làm nội thành hoặc các khu lân cận, con nhỏ, cuối tuần đi chơi gần | Trường của con, khu phố, nhóm cư dân trên mạng |
Ranh giới giữa "người gốc" và "người mới" mờ nhanh hơn người ta nghĩ. Những đứa trẻ sinh ra ở đây mười lăm năm trước, cha mẹ từ quê lên, nay tự coi mình là người An Phú Đông, nói giọng Sài Gòn và biết con nước lên tháng nào.
Những nét chung dễ nhận ra
Quen sống với nước. Dù gốc hay mới, ai sống ở đây vài năm cũng học được cách xem con nước, kê đồ lên cao những ngày triều cường, đi đường vòng tránh đoạn trũng. Đó là kỹ năng chung của cả phường.
Nửa phố nửa quê. Buổi sáng có thể đi qua một vườn chuối, một bờ kênh có dừa nước, rồi mười phút sau đã ở trên trục đường đông xe tải. Người ở đây sống giữa hai nhịp ấy và quen chuyển qua lại.
Đời sống quanh con hẻm. Hẻm là đơn vị sống thật sự: nơi trẻ con chơi, người lớn ngồi trước cửa chuyện trò, xe bán hàng rong đi qua, đám giỗ mượn chỗ dựng rạp. Quan hệ hàng xóm hình thành trong hẻm hơn là trong khu phố hành chính.
Thói quen ra sông. Bờ sông Sài Gòn, bờ Vàm Thuật là không gian chung của nhiều thế hệ: người già đi bộ sáng sớm, thanh niên ngồi quán ven sông buổi tối, cha mẹ chở con ra ngắm hoàng hôn cuối tuần.
Khi gặp nhau trong cùng một con hẻm
Sống đan xen không tránh khỏi va chạm. Người gốc quen nếp làng: có việc thì dựng rạp giữa hẻm, đám giỗ kéo dài tới tối, sáng sớm đã quét sân, đốt lá. Người mới quen nếp phố: cần yên tĩnh buổi tối, để xe trước cửa, ít khi tham gia việc chung. Những chuyện nhỏ như thế có thể thành mâu thuẫn nếu không ai nói với ai.
Nhưng cũng chính trong hẻm, người ta tìm ra cách sống chung. Đám giỗ nhà gốc mời cả hàng xóm mới; người mới góp tiền làm đèn hẻm, làm cống. Tổ dân phố là nơi hai bên ngồi lại khi có việc chung. Trẻ con hai nhà chơi với nhau, rồi cha mẹ thành quen. Những câu chuyện như thế không có trong báo cáo nào, nhưng là chất keo giữ khu dân cư lại.
Một điều người mới về thường được khuyên: hãy hỏi chuyện người già trong hẻm. Họ biết con nước, biết đường tắt, biết ai giữ đình, biết cả lý do vì sao con hẻm cong ở đoạn ấy. Một câu hỏi thăm chân thành mở ra nhiều cánh cửa hơn bất cứ nhóm trên mạng nào.
Lớp trẻ lớn lên trên bán đảo
Có một lớp người An Phú Đông ít được nhắc tới: những người trẻ hiện ở tuổi hai mươi, ba mươi, sinh ra hoặc lớn lên ở đây trong giai đoạn vườn chuyển thành phố. Họ nhớ con đường đất trước nhà trước khi đổ bê tông, nhớ ao cá nhà hàng xóm trước khi bị lấp, nhớ đi học băng qua vườn. Họ cũng là lớp đầu tiên học hết phổ thông, nhiều người học đại học, đi làm trong nội thành.
Lớp trẻ ấy đứng giữa hai thế giới. Với cha mẹ, ông bà, họ là người nối dõi việc giỗ chạp, việc đình. Với bạn bè đồng nghiệp, họ là người Sài Gòn bình thường. Nhiều người trong số đó đang là những người chụp ảnh, viết lại chuyện xóm cũ, lập các nhóm cư dân, giữ liên lạc giữa người gốc và người mới. Họ hiểu cả hai bên, và chính họ có thể quyết định nếp làng ven sông còn lại bao nhiêu trong vài chục năm tới.
Những gì đang mất đi và những gì đang được giữ
Cùng với vườn, nhiều nếp sống cũ đang mất dần: bến nước sau nhà, chiếc xuồng buộc dưới mương, bữa cơm ngoài sân bên hàng dừa, tiếng gọi đò. Thế hệ trẻ của các gia đình gốc lớn lên trong nhà phố, đi học, đi làm như bạn bè trong nội thành, ít người còn biết đặt lờ, đắp bờ hay nhận ra các loại rau mọc dưới mương.
Nhưng cũng có những thứ được giữ, thậm chí được làm mới. Đình làng vẫn tổ chức lễ Kỳ yên, có thêm người trẻ tham gia. Đám giỗ vẫn là dịp họ hàng tụ họp. Những gia đình trẻ mới về tìm đến bờ sông, quán cà phê vườn như tìm lại một thứ không gian mà họ đã mất ở quê hay ở nội thành. Ký ức về vùng đất được ghi lại qua ảnh cũ, qua lời kể đăng trên các nhóm cư dân.
Chân dung người An Phú Đông vì thế không đứng yên. Nó đang được vẽ lại mỗi năm, khi thêm một dãy nhà mới, thêm một lớp trẻ con lớn lên, thêm một cụ già ra đi mang theo những câu chuyện chưa kịp ghi.
Nếu bạn muốn hiểu người An Phú Đông nhanh hơn
Không có khoá học nào cho việc này, nhưng có vài cách mà người mới về hay làm và thấy hữu ích.
- Đi chợ sáng thay vì chỉ mua ở cửa hàng tiện lợi: chợ là nơi nghe được nhiều giọng nói, nhiều chuyện nhất.
- Dự một lễ Kỳ yên ở đình khi có dịp, với tư cách người xem có ý tứ.
- Nhận lời mời đám giỗ của hàng xóm, đi đúng giờ, góp một phần nhỏ theo lệ xóm.
- Đi bộ ven sông vào sáng sớm, khi người lớn tuổi ra tập thể dục và sẵn lòng trò chuyện.
- Tham gia một buổi họp tổ dân phố để biết những việc chung của khu.
- Hỏi chuyện người già về ngày xưa và ghi lại — cho chính gia đình mình, cho con cái lớn lên ở đây.
Không cần làm hết. Chỉ một hai việc trong số này, làm đều đặn trong vài tháng, đủ để bạn chuyển từ "người mới dọn tới" thành "người trong hẻm". Và khi đã là người trong hẻm, chính bạn sẽ là người kể cho lớp người mới tiếp theo về con nước, về đình, về chợ sáng.
Câu hỏi thường gặp
Người An Phú Đông gốc chủ yếu làm nghề gì trước đây?
Theo lời kể của người lớn tuổi và nếp chung của vùng ven sông phía bắc Sài Gòn, cư dân gốc chủ yếu làm vườn, trồng lúa trên ruộng trũng, đánh bắt cá tôm trong kênh rạch và đi ghe trên sông. Ngày nay con cháu họ phần lớn đi làm công ty, buôn bán, ít người còn sống bằng vườn.
Có còn nhiều gia đình gốc ở An Phú Đông không?
Vẫn còn, nhất là trong các con đường cũ gần sông, kênh và quanh các đình làng. Tuy vậy, tỷ lệ người mới về đã tăng rất nhanh theo các khu dân cư mới, nên trong nhiều con hẻm người gốc và người mới sống xen kẽ.
Người mới chuyển về có dễ hoà nhập không?
Nhìn chung là dễ, vì vùng này đã quen đón người từ nhiều nơi. Chào hỏi hàng xóm, tôn trọng lệ chung của hẻm, tham gia một vài việc chung như họp tổ dân phố hay đám giỗ được mời là cách nhanh nhất để được coi là người trong xóm.
Giọng nói ở An Phú Đông có gì riêng không?
Người gốc nói giọng Nam Bộ vùng ven Sài Gòn, gần với giọng Hóc Môn, Gò Vấp. Do nhiều người từ các tỉnh về, trong phường có thể nghe đủ giọng các miền; thế hệ trẻ lớn lên ở đây chủ yếu nói giọng Sài Gòn.
Phường An Phú Đông mới có bao nhiêu dân?
Các con số dân số công bố khác nhau theo thời điểm và theo cách tính cho đơn vị mới sau ngày 1/7/2025. Nếu cần số liệu chính thức, bạn nên tra các công bố của cơ quan thống kê hoặc hỏi UBND phường thay vì dựa vào con số truyền miệng.